A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Số hóa quản lý đội tàu, góp phần minh bạch nghề cá

Đắk Lắk đang từng bước đưa toàn bộ quá trình quản lý đội tàu lên môi trường số, chuyển từ theo dõi từng khâu sang quản lý xuyên suốt hoạt động của từng tàu, chủ động phát hiện nguy cơ và kiểm soát vi phạm IUU.

Đối soát, số hóa và định danh tàu cá

Trước đây, thông tin về một chuyến biển chủ yếu được lưu giữ qua hồ sơ đăng ký, thủ tục xuất - nhập bến, nhật ký khai thác và các loại giấy tờ liên quan. Khi cần kiểm tra, cán bộ phải tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn. Việc theo dõi hoạt động của tàu vì thế phụ thuộc nhiều vào hồ sơ và quá trình cập nhật thủ công. Hiện nay, một phần quan trọng của quy trình này đã được đưa lên môi trường số.

Ngư dân phường Xuân Đài được lực lượng chức năng hướng dẫn, tuyên truyền các biện pháp chống khai thác IUU, kê khai trên các phần mềm quản lý tàu cá.
Ngư dân phường Xuân Đài được lực lượng chức năng hướng dẫn, tuyên truyền các biện pháp chống khai thác IUU, kê khai trên các phần mềm quản lý tàu cá.

Trên Hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VnFishbase), thông tin về từng phương tiện được cập nhật, quản lý tập trung. Hiện hơn 2.500 tàu cá có chiều dài từ 6 m trở lên của tỉnh đã được đăng ký trên hệ thống, đạt tỷ lệ 100%. Toàn bộ 691 tàu cá có chiều dài từ 15 m trở lên của tỉnh đã được lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS). Dữ liệu tàu cá được đối soát, số hóa và định danh đồng bộ với dữ liệu Cơ sở dữ liệu dân cư (VNeID) giúp cơ quan quản lý có thể xác định tàu nào, chủ tàu nào, tình trạng đăng ký ra sao... Khi tàu hoạt động, các thông tin về chuyến biển tiếp tục được cập nhật thông qua phần mềm eCDT; vị trí và hành trình của tàu được cung cấp qua VMS. Qua đó, dữ liệu về mỗi con tàu từng bước được xác lập thành một chuỗi liên tục.

Ngư dân kiểm tra thiết bị VMS trên tàu trước khi xuất bến.
Ngư dân kiểm tra thiết bị VMS trên tàu trước khi xuất bến.

Theo ông Huỳnh Đình Tâm, chủ tàu cá ở phường Xuân Đài, việc theo dõi hành trình không chỉ giúp chủ tàu kết nối với bờ mà còn cảnh báo khi tàu tiến vào khu vực giáp ranh, qua đó hạn chế nguy cơ vi phạm. Còn ông Trần Văn Lại, thuyền trưởng một tàu cá ở phường Phú Yên cho hay, ông đã được cán bộ biên phòng hướng dẫn sử dụng phần mềm eCDT để thực hiện các thao tác khai báo xuất, nhập cảng và ghi chép sản lượng khai thác. “So với việc ghi chép bằng sổ giấy, tôi thấy khai báo trên phần mềm thuận tiện hơn rất nhiều, nhất là trong điều kiện làm việc thường xuyên tiếp xúc với nước biển, sổ sách, giấy tờ dễ bị ướt, rách”, ông Lại cho biết.

Trong khi đó, với các cơ quan quản lý, giá trị của việc cập nhật dữ liệu trên môi trường số không chỉ nằm ở việc giảm giấy tờ, mà quan trọng hơn là tạo khả năng truy xuất và đối chiếu thông tin. Khi một tàu xuất bến, quá trình hoạt động của tàu được ghi nhận qua nhiều lớp dữ liệu. VMS liên tục cập nhật hành trình; eCDT ghi nhận thông tin chuyến biển; dữ liệu về phương tiện và chủ tàu được lưu trên VnFishbase.

Chủ động phát hiện nguy cơ, kiểm soát từ sớm

Theo Chi cục Thủy sản và Biển đảo, để quản lý đội tàu trên môi trường số, ngành thủy sản đang vận hành đồng bộ 3 hệ thống chính gồm VnFishbase, eCDT và VMS. Mỗi hệ thống đảm nhận một lớp dữ liệu nhưng có sự bổ trợ cho nhau trong quá trình quản lý. Điểm đáng chú ý là dữ liệu số giúp thay đổi cách thức kiểm tra, kiểm soát. Thay vì chỉ xử lý thông tin sau khi tàu về cảng hoặc khi phát sinh vụ việc, cơ quan quản lý có thêm công cụ để theo dõi trong quá trình tàu hoạt động, nhận diện những dấu hiệu bất thường và chủ động đưa ra cảnh báo.

Chiến sĩ Trạm kiểm soát Biên phòng Đà Rằng liên lạc, nhắc nhở các tàu cá đang đi vào khu vực vùng biển giáp ranh.
Chiến sĩ Trạm kiểm soát Biên phòng Đà Rằng liên lạc, nhắc nhở các tàu cá đang đi vào khu vực vùng biển giáp ranh.

Theo Đại úy Nguyễn Minh Hoàng, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Tuy Hòa, khi hệ thống VMS phát hiện tàu có dấu hiệu đi vào khu vực giáp ranh hoặc vượt ranh giới cho phép, thông tin được cập nhật ngay trên hệ thống. Qua đó, lực lượng trực tại trạm sẽ liên lạc, nhắc nhở, cảnh báo, hạn chế tình trạng vi phạm trên biển. Cùng với đó, khả năng kết nối dữ liệu cũng giúp cán bộ quản lý có thêm căn cứ đánh giá hoạt động của từng phương tiện để tập trung kiểm tra những trường hợp có nguy cơ cao.

Ông Đào Quang Minh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh cho biết: Giá trị lớn nhất của số hóa không chỉ là thay đổi phương thức làm thủ tục, mà là tạo ra hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý toàn diện hoạt động của từng tàu cá. Chỉ từ số đăng ký hoặc tên chủ tàu trên cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia, cơ quan chức năng có thể tra cứu các thông tin liên quan đến phương tiện, các chuyến biển, xuất - nhập bến, sản lượng khai thác... Các thông tin được cập nhật đầy đủ, cơ quan quản lý có thể xác định nhóm tàu có nguy cơ cao để chủ động thông báo, phối hợp kiểm tra, kiểm soát và ngăn chặn vi phạm ngay từ đầu, hạn chế vi phạm IUU và từng bước xây dựng nghề cá minh bạch, có trách nhiệm.

Khi dữ liệu về phương tiện, hành trình, chuyến biển và sản lượng từng bước được số hóa, cơ quan quản lý có thêm công cụ kiểm soát toàn bộ quá trình khai thác thay vì chỉ kiểm tra ở một thời điểm. Đồng thời, ngư dân cũng có trách nhiệm rõ hơn trong việc cập nhật thông tin và tuân thủ các quy định trong quá trình hoạt động.

Tuyết Hương


Tác giả: Tuyết Hương