Sáng 29/7, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương trình bày những nội dung chủ yếu của Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương. Ảnh: TTXVN
Đổi mới mô hình phát triển phải được thực hiện đồng bộ, phù hợp từng giai đoạn
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị thông tin, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá, qua 40 năm Đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình cao năm 2025.
Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Trong khi đó, bối cảnh thế giới biến đổi nhanh, phức tạp.
Ở trong nước, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách, mục tiêu chiến lược, đột phá, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện mô hình phát triển đất nước trong thời gian tới.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và quán triệt chủ trương, đường lối, quan điểm, nghị quyết, kết luận của Đảng và các kết luận chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết xác định hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tổng thể, toàn diện về đổi mới mô hình phát triển đất nước cho giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2050.
Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo. Thứ nhất, xác định các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển. Đó là thực hiện nhất quán “bốn kiên định”; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường vai trò giám sát, phản biện và tạo đồng thuận xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai, thể hiện bản chất của đổi mới mô hình phát triển đất nước và nội hàm của mô hình phát triển mới. Đổi mới mô hình phát triển đất nước trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới và xác định nội hàm của mô hình phát triển mới…
Thứ ba, xác định cơ chế vận hành. Mô hình phát triển đất nước vận hành đồng bộ theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, nhân dân làm chủ"; dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tổ chức phát triển trong không gian tích hợp, đa tầng, liên thông, tạo liên kết và lan tỏa.
Thứ tư, thể hiện định hướng khai thác, phát huy mọi nguồn lực cho đổi mới mô hình phát triển, hướng đến phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.
Thứ năm, thể hiện phương thức thực hiện. Đổi mới mô hình phát triển phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết chặt chẽ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất; lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.

Nghị quyết số 19-NQ/TW đề ra 5 quan điểm chỉ đạo.
7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp
Theo Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, đến năm 2030, hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước thu nhập trung bình cao, có công nghiệp hiện đại. Tạo được đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực.
Đến năm 2045, hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập và các mô hình thành phần được vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả...
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp:
Thứ nhất, về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị gồm 7 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đề cập toàn diện từ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, công tác xây dựng Đảng, tổ chức, cán bộ đến đổi mới quản trị thực thi nghị quyết của Đảng; xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, đổi mới quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội.
Thứ hai, về kinh tế gồm 13 nhóm nhiệm vụ, giải pháp bao quát toàn diện. Trong đó, xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; hoàn thiện phát triển các loại thị trường; cải cách sâu rộng hệ thống tài chính; đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia…
Thứ ba, về xã hội gồm 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Đó là xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; có niềm tin, có khả năng thích ứng và phục hồi trước các biến động; quản trị, phát triển xã hội hiện đại dựa trên dữ liệu; xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, đa tầng, bao trùm, linh hoạt, thích ứng cao; chuyển đổi hệ thống y tế từ chữa bệnh sang phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện; đổi mới quản trị phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hóa thị trường lao động.
Thứ tư, về văn hóa, con người gồm 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trọng tâm là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia. Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục, lấy người học làm trung tâm. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Nâng cao chất lượng dân số và khai thác cơ hội phát triển từ chuyển đổi dân số.
Thứ năm, về môi trường sinh thái có 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, gồm xây dựng văn hóa sinh thái, thúc đẩy lối sống xanh, phát triển xanh, hài hòa với thiên nhiên; phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực; xây dựng nền tảng quản trị tài nguyên và môi trường hiện đại; chủ động phòng ngừa, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển công nghiệp môi trường.
Thứ sáu, về quốc phòng, an ninh, gồm 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế, pháp luật về quốc phòng, an ninh phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, thích ứng với hình thái chiến tranh mới và các không gian chiến lược mới.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân liên hoàn; gắn thế trận quốc phòng số, an ninh số với thế trận lòng dân vững chắc. Xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại...
Thứ bảy, về đối ngoại và hội nhập quốc tế gồm 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Trọng tâm là xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm; triển khai đồng bộ, hiệu quả ngoại giao công nghệ, ngoại giao số, ngoại giao văn hóa và ngoại giao môi trường, khí hậu; phát huy vai trò của ngoại giao nguyên thủ. Nâng tầm đối ngoại đa phương; đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, an ninh; đa dạng hóa đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ.
Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết: Để triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động với 51 nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và 40 chỉ tiêu chủ yếu; xác định rõ lộ trình, sản phẩm đầu ra, phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức chủ trì theo dõi, thực hiện.

