• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Xây dựng các cực tăng trưởng công nghiệp quy mô vùng

Phát triển ngành công nghiệp đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi tư duy, theo đó cần xây dựng các cực tăng trưởng công nghiệp quy mô vùng, dựa trên lợi thế so sánh và sự phân công chuyên môn hóa giữa các địa phương.

Phân bố công nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng

Dư địa phát triển nhờ không gian rộng hơn, liên kết chặt chẽ hơn. Những thay đổi về thể chế, tổ chức bộ máy và phương thức điều hành được kỳ vọng tạo xung lực mới cho khu vực sản xuất công nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc và yêu cầu về tính kết nối vùng ngày càng trở nên cấp thiết.

Công nghiệp Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng dư địa phát triển nhờ không gian rộng hơn, liên kết chặt chẽ hơn

Công nghiệp Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng dư địa phát triển nhờ không gian rộng hơn, liên kết chặt chẽ hơn

Theo Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay là sự phân tán và trùng lặp trong lựa chọn ngành công nghiệp ưu tiên. Khi nhiều địa phương cùng hướng đến một số ngành như điện tử, bán dẫn, ô tô hay cơ khí, trong khi thị trường, doanh nghiệp cung ứng và nhân lực chưa đủ lớn, nguy cơ cạnh tranh thu hút đầu tư bằng ưu đãi là khó tránh khỏi.

Hệ quả là đầu tư hạ tầng có thể bị trùng lặp, nguồn lực bị phân tán, trong khi khả năng hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh lại hạn chế. Hạn chế thứ hai là thiếu các cơ chế điều phối và hệ thống hạ tầng dùng chung ở quy mô vùng. Nhiều loại hạ tầng như logistics, phòng thử nghiệm, đo lường, cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, R&D và đào tạo nhân lực có lợi ích vượt qua ranh giới của một địa phương.

Tuy nhiên, việc đầu tư và tổ chức thực hiện vẫn chủ yếu theo từng tỉnh, thành phố. Đây là nguyên nhân khiến nguồn lực bị phân tán và làm giảm lợi ích của liên kết vùng.

Bên cạnh đó, năng lực kết nối giữa doanh nghiệp hạt nhân với doanh nghiệp trong nước vẫn là vấn đề cần được quan tâm. Một số vùng có các dự án công nghiệp quy mô lớn nhưng mức độ lan tỏa sang hệ thống doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Sự phụ thuộc vào một số doanh nghiệp hoặc dự án lớn cũng có thể tạo ra rủi ro đối với sự phát triển ổn định của cả không gian công nghiệp”- báo cáo Cục Công nghiệp nêu rõ.

Một điểm nghẽn khác là hạ tầng kết nối chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Trung du và miền núi phía Bắc còn gặp khó khăn về logistics và kết nối cửa khẩu; Tây Nguyên vẫn chịu hạn chế trong kết nối với các cảng biển; Bắc Trung Bộ cần tăng cường kết nối giữa cảng biển, khu công nghiệp và hậu phương; Đồng bằng sông Cửu Long còn chịu chi phí logistics cao do phần lớn hàng hóa phải trung chuyển qua TP. Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ.

Ngoài ra, phát triển công nghiệp cũng không thể tách rời yêu cầu bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Các ngành khai khoáng, luyện kim, lọc hóa dầu, thép, điện khí hay alumin đều có thể tạo áp lực lớn lên tài nguyên nước, môi trường và hệ sinh thái. Trong khi đó, nhiều vùng lại đang chịu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu.

Những hạn chế trên cho thấy, nếu tiếp tục phát triển công nghiệp theo tư duy địa phương, các nguồn lực khó có thể được sử dụng hiệu quả. Một địa phương có thể xây dựng khu công nghiệp, nhưng không thể tự mình tạo ra đầy đủ một hệ sinh thái từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất linh kiện, chế tạo, logistics đến thị trường.

Xây dựng cực tăng trưởng từ liên kết vùng

Để xây dựng các cực tăng trưởng công nghiệp quy mô vùng, trước hết cần thay đổi cách tiếp cận trong tổ chức không gian phát triển. Mỗi vùng cần xác định rõ những ngành có lợi thế thực chất, những doanh nghiệp hạt nhân có khả năng dẫn dắt và những địa phương có thể đảm nhiệm các công đoạn khác nhau trong chuỗi giá trị.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho biết, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, Việt Nam cần chuyển từ tư duy phát triển công nghiệp dựa trên lợi thế chi phí sang phát triển dựa trên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và leien kết vùng. Trọng tâm là xây dựng các cực tăng trưởng công nghiệp quy mô vùng, thay vì phát triển phân tán theo địa giới hành chính. Chuyên gia đề xuất hình thành 3 cực đổi mới sáng tạo quốc gia gồm: cực Bắc (Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Phòng - Quảng Ninh) với thế mạnh điện tử, bán dẫn và logistics; cực Trung (Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam) tập trung vào AI, công nghệ thông tin và logistics biển; cực Nam (TP. Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng Tàu) phát triển sản xuất thông minh và công nghệ xanh.

“Mỗi cực cần được chuyên môn hóa theo lợi thế riêng, có cơ chế điều phối nội vùng và liên kết liên vùng để tạo quy mô đủ lớn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Liên kết vùng không chỉ là kết nối hạ tầng hay giao thông, mà là kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy dòng chảy tri thức, công nghệ, nhân lực và doanh nghiệp. Đây cũng là khâu đột phá quan trọng nhằm tháo gỡ tình trạng phát triển cục bộ, tăng cường phối hợp giữa các địa phương, qua đó hình thành năng lực cạnh tranh quốc gia và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu”- PGS.TS. Bùi Quang Tuấn nói.

Để xây dựng các cực tăng trưởng công nghiệp quy mô vùng, trước hết cần thay đổi cách tiếp cận trong tổ chức không gian phát triển.

Để xây dựng các cực tăng trưởng công nghiệp quy mô vùng, trước hết cần thay đổi cách tiếp cận trong tổ chức không gian phát triển.

Báo cáo của Cục Công nghiệp nêu, tại khu vực phía Bắc, có thể tăng cường liên kết giữa Đồng bằng sông Hồng với Trung du và miền núi phía Bắc. Hà Nội tập trung vào thiết kế, R&D và dịch vụ công nghệ; Bắc Ninh phát triển điện tử, đóng gói - kiểm thử và hệ thống nhà cung ứng; Hải Phòng - Quảng Ninh tập trung vào chế tạo quy mô lớn, ô tô, thiết bị điện, tàu biển và cảng; các địa phương Trung du và miền núi phía Bắc tham gia sâu hơn vào cung ứng vật liệu, linh kiện và công nghiệp hỗ trợ.

Tại Bắc Trung Bộ, cần thúc đẩy mô hình liên kết năng lượng - vật liệu - cơ khí - logistics, tăng cường cộng sinh công nghiệp giữa các khu kinh tế và các trung tâm sản xuất. Việc kết nối Nghi Sơn, Vũng Áng, Nghệ An và các địa phương trong vùng có thể tạo ra không gian công nghiệp lớn hơn thay vì phát triển các dự án đơn lẻ.

Đối với Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, cần thúc đẩy liên kết giữa không gian biển và cao nguyên. Duyên hải Nam Trung Bộ có thể phát triển cơ khí nặng, năng lượng gió ngoài khơi, công nghiệp hàng hải và cơ khí biển; Tây Nguyên ưu tiên phát triển công nghiệp vật liệu, đặc biệt là chuỗi bô-xít - nhôm, gắn với chế biến sâu tài nguyên khoáng sản.

Đông Nam Bộ phát huy vai trò là trung tâm công nghệ, tài chính, R&D và dịch vụ công nghiệp, đồng thời tăng khả năng lan tỏa sang các không gian sản xuất khác. Đây cần là trung tâm điều phối công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, thiết kế tích hợp và các dự án công nghiệp quy mô lớn, thay vì chỉ tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất.

Với Đồng bằng sông Cửu Long, cần xây dựng cực tăng trưởng dựa trên chuỗi giá trị nông nghiệp - công nghiệp. Cần Thơ có thể giữ vai trò "cực" chế biến, dịch vụ và đào tạo, kết nối với các vùng nguyên liệu và chế biến chuyên biệt. Công nghiệp sinh học, chế biến sâu, năng lượng sinh khối, máy móc và cảm biến nông nghiệp cần được ưu tiên để chuyển lợi thế nguyên liệu thành giá trị gia tăng cao hơn.

Quan trọng hơn, việc xây dựng các cực tăng trưởng phải đi cùng với cơ chế điều phối vùng đủ mạnh. Cần xác định những loại hạ tầng có thể đầu tư chung, từ logistics, trung tâm R&D, phòng thử nghiệm, hệ thống đo lường đến cơ sở dữ liệu nhà cung ứng và đào tạo nhân lực. Đặc biệt, doanh nghiệp hạt nhân phải trở thành trung tâm của quá trình liên kết. Không có doanh nghiệp đầu chuỗi, các chủ trương liên kết rất dễ chỉ dừng lại trên giấy. Chính doanh nghiệp mới là chủ thể quyết định các đơn hàng, công nghệ, vốn và chuỗi cung ứng.

Lợi thế về tài nguyên, vị trí hay thị trường chỉ là điểm xuất phát. Năng lực cạnh tranh bền vững được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các lợi thế đó thành năng suất, chất lượng và đổi mới thông qua doanh nghiệp, nhân lực, R&D, hạ tầng và thể chế. Năng lực liên kết và nâng cấp chuỗi giá trị mới là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của một vùng công nghiệp. Đó cũng là giải pháp ngành công nghiệp chuyển từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô sang giai đoạn phát triển dựa trên liên kết, năng suất và giá trị gia tăng cao hơn.

Theo bà Trương Thị Chí Bình, Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI), liên kết vùng được tăng cường sẽ giúp hình thành các cụm công nghiệp, chuỗi sản xuất có chiều sâu, thay vì tình trạng mỗi địa phương phát triển một khu công nghiệp nhỏ lẻ, thiếu kết nối. Khi ranh giới hành chính không còn là “rào cản mềm” sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án đầu tư lớn, đặc biệt là những dự án công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ có yêu cầu cao về quy mô và tính đồng bộ.

Duy Anh

Tin liên quan