Quy định trên là một minh chứng cho thấy trong xu hướng tiêu dùng hiện đại trên thế giới, truy xuất nguồn gốc (TXNG) với sản phẩm không còn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành quy định bắt buộc; nhằm bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của nhà sản xuất, bảo vệ môi trường.
Liên quan TXNG nông sản, cũng cần phân biệt “mã số vùng trồng” (MSVT) và “cơ sở dữ liệu vùng trồng” (CSDLVT). MSVT là công cụ kỹ thuật phục vụ TXNG cho một thị trường, sản phẩm cụ thể. Trong khi đó, MSVT chỉ là một phần của CSDLVT. CSDLVT là hạ tầng rộng lớn hơn, giúp nhận diện không gian sản xuất, kết nối các chủ thể; là nền tảng để chuyển đổi phương thức quản lý; giúp cơ quan quản lý trả lời được các câu hỏi: Nguồn cung ở đâu? Sản lượng bao nhiêu? Vùng nào cần điều tiết nước tưới ngay?; giúp quản lý ngành nông nghiệp một cách hiện đại, minh bạch.
CSDLVT là yếu tố có ý nghĩa quan trọng sống còn, không chỉ để đáp ứng yêu cầu quốc tế, mà còn phục vụ công tác quản lý ngành nông nghiệp của quốc gia trong thời chuyển đổi số.
Tại Việt Nam, theo nhiều chuyên gia, không thiếu dữ liệu nông nghiệp. DN có dữ liệu vùng nguyên liệu liên kết; hợp tác xã nắm thông tin nông hộ; cơ quan quản lý có số liệu thống kê. Nhưng các nguồn dữ liệu này còn tồn tại rời rạc, không liên thông, khiến cơ quan quản lý khó đưa ra các quyết định chính xác với thực địa.
Không chỉ phân tán, dữ liệu nông nghiệp hiện còn chậm cập nhật. Cơ cấu cây trồng thay đổi liên tục theo thị trường, nhưng các thống kê truyền thống lại có độ trễ lớn. Một chuyên gia đưa ra ví dụ tại một xã miền núi phía Bắc, diện tích cà phê thực tế qua ảnh viễn thám là 5.400ha, nhưng số liệu thống kê truyền thống chỉ ghi nhận 1.700ha, nghĩa là bằng khoảng 30% thực tế, tỷ lệ sai lệch rất lớn.
Để khắc phục những tồn tại trên, nhiều chuyên gia cho rằng cần huy động cán bộ cơ sở và người dân góp sức xây dựng CSDLVT; lập các tổ công tác gồm cán bộ xã và trưởng thôn là những người hiểu rõ nhất thực trạng đất đai, cây trồng của từng hộ tại địa phương; sử dụng các ứng dụng di động dễ thao tác để nông dân và cán bộ địa phương có thể đo đạc, cập nhật thông tin ngay tại vườn. Về phía Nhà nước, cần xem xét có quy định bắt buộc các DN trong lĩnh vực chia sẻ DLVT với nhóm sản phẩm rủi ro cao; khuyến khích DN chia sẻ DLVT sẽ nhận được những sự hỗ trợ từ Nhà nước.
Khi có sự phối hợp giữa người dân, DN, Nhà nước trong xây dựng CSDLVT; tất cả sẽ cùng có lợi: Cơ quan quản lý tiết kiệm được nguồn lực, nông dân và DN tránh được trường hợp rủi ro nông sản bị đánh giá “không đáp ứng tiêu chuẩn”. CSDLVT cũng sẽ không chỉ đơn thuần là công cụ phục vụ TXNG, mà còn là nền tảng giúp Nhà nước, DN, người sản xuất cùng nhìn thấy rõ không gian sản xuất của ngành hàng để phối hợp phát triển một cách minh bạch, bền vững.

