Tái cơ cấu lĩnh vực công nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh đang trở thành yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững. Với nội dung trên, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Trần Việt Hòa - Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương).
Tái cơ cấu công nghiệp tập trung vào các ngành trọng điểm
- Thưa ông, thực tế cho thấy công nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển mạnh về quy mô và sản lượng, nhưng giá trị gia tăng, năng suất và mức độ làm chủ công nghệ ở nhiều ngành vẫn còn hạn chế. Đâu là những điểm nghẽn lớn nhất khiến quá trình tái cơ cấu công nghiệp?
Ông Trần Việt Hòa: Trong gần bốn thập niên, công nghiệp Việt Nam đã rất thành công trong việc mở rộng quy mô. Nhưng năng lực công nghiệp - khả năng làm chủ thiết kế, công nghệ và chuỗi cung ứng - lại tích lũy chậm hơn nhiều. Thực trạng này chủ yếu do các điểm nghẽn sau:

Ông Trần Việt Hòa - Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương)
Thứ nhất, năng lực sản xuất và xuất khẩu phụ thuộc lớn vào khu vực đầu tư nước ngoài, dẫn tới cấu trúc “một nền công nghiệp, hai khu vực tách rời”. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77,3% và tăng 26,1%, còn khu vực kinh tế trong nước giảm 6,1%; khu vực trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD, trong khi khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 49,46 tỷ USD. Những con số đó cho thấy tăng trưởng công nghiệp hiện nay chủ yếu là sự mở rộng của năng lực sản xuất đặt tại Việt Nam, chưa phải là sự lớn lên của năng lực sản xuất do người Việt làm chủ.
Thứ hai, năng lực tự chủ về đầu vào chiến lược còn yếu; nhiều mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng còn bỏ trống. Việt Nam vẫn phụ thuộc nhập khẩu các nguyên vật liệu quan trọng như thép hợp kim; hóa chất cơ bản hữu cơ, hóa chất tinh khiết, hạt nhựa; vật liệu bán dẫn, phần lớn máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất... Chúng ta cũng chưa làm chủ được năng lực thiết kế tích hợp và tổng thầu EPC cho các dự án công nghiệp quy mô lớn, khiến các dự án hạ tầng chiến lược quốc gia chưa trở thành thị trường thực sự cho công nghiệp trong nước.
Thứ ba, trình độ công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính, quản trị và đầu tư cho R&D còn yếu. Việc hấp thụ, làm chủ và thương mại hóa công nghệ mới chưa đáp ứng yêu cầu, khiến nền công nghiệp vẫn dựa nhiều vào lao động giá rẻ và gia công thay vì năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, năng suất lao động trong các ngành công nghiệp chưa được cải thiện nhiều, đặc biệt là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Năng suất lao động của ngành công nghiệp chủ yếu dựa vào đóng góp của ngành khai khoáng (1.608 triệu đồng/lao động năm 2024) và ngành sản xuất, phân phối điện (2.972,6 triệu đồng/lao động), trong khi năng suất lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ đạt 231,4 triệu đồng/lao động năm 2024.
Các điểm nghẽn chủ yếu nêu trên đã dẫn tới thực trạng sản xuất công nghiệp của Việt Nam chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp. Cần phải tái cơ cấu toàn diện về nội lực của quốc gia để có thể đổi mới mô hình công nghiệp hóa, phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời kỳ mới.
- Một yêu cầu đặt ra hiện nay là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Theo ông, tái cơ cấu công nghiệp cần tập trung vào những ngành, lĩnh vực nào để tạo ra sự chuyển dịch này?
Ông Trần Việt Hoà: Trong bối cảnh nguồn lực quốc gia có hạn, cần định hướng rõ các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên để bố trí nguồn lực tương xứng thúc đẩy phát triển và lan tỏa, tránh dàn trải. Do đó, tái cơ cấu công nghiệp nên tập trung vào các ngành, lĩnh vực sau đây:
Nhóm thứ nhất là các ngành, lĩnh vực mang tính chất nền tảng, cung cấp các yếu tố đầu vào, tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất cho các ngành công nghiệp khác, bao gồm: vật liệu cơ bản, hóa chất cơ bản, cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, khoáng sản chiến lược và đất hiếm. Đây là nhóm ngành quyết định năng lực tự chủ đầu vào cho sản xuất trong nước, giảm phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa; đồng thời tích lũy năng lực chế tạo và công nghệ cơ bản cho nền công nghiệp quốc gia.

Đề án Tái cơ cấu ngành Công Thương đến năm 2030 tập trung vào chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ.
Nhóm thứ hai là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn gắn với mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược, gồm: bán dẫn và điện tử công nghệ cao, vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai, thiết bị năng lượng, pin lưu trữ, phương tiện giao thông điện. Đây là các ngành có khả năng giúp Việt Nam làm chủ các công nghệ chiến lược, đột phá trở thành một quốc gia công nghiệp với công nghệ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Cơ cấu lại không gian phát triển công nghiệp theo lợi thế của từng vùng
- Với vai trò cơ quan quản lý lĩnh vực công nghiệp, Cục Công nghiệp đang định hướng tái cơ cấu các ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp chế biến, chế tạo như thế nào để vừa nâng cao năng lực tự chủ, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập và cạnh tranh quốc tế, thưa ông?
Ông Trần Việt Hoà: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP, trong khi GDP tăng bình quân từ 10%/năm. Điều đó có nghĩa giá trị tăng thêm của ngành phải tăng khoảng 12%/năm trở lên và duy trì liên tục trong 5 năm, cao hơn mức 9,97% của năm 2025 - vốn đã là mức cao nhất kể từ năm 2019. Tốc độ ấy không thể đạt được bằng cách mở rộng thêm năng lực gia công, lắp ráp, mà chỉ đạt được thông qua con đường đổi mới sáng tạo trên cơ sở phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia, qua đó nâng phần giá trị gia tăng giữ lại trong nước trên mỗi đơn vị sản lượng.
Định hướng tái cơ cấu chung của nền công nghiệp vẫn sẽ là chuyển dịch cơ cấu nội ngành từ các lĩnh vực thâm dụng tài nguyên, lao động sang các lĩnh vực thâm dụng vốn và công nghệ, xanh hóa, số hóa, từng bước chuyển từ các công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, qua đó nâng cao vị thế của công nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Để triển khai định hướng đó, các giải pháp phải bám sát những điểm nghẽn nêu trên và được tập trung vào năm nhóm.
Một là, hoàn thiện thể chế và đổi mới tư duy về ưu đãi, hỗ trợ. Chuyển ưu đãi, hỗ trợ cho các ngành công nghiệp từ chỗ gắn với dự án đầu tư và địa bàn sang gắn với kết quả đầu ra: giá trị gia tăng tạo ra trong nước; mức độ chuyển giao, cải tiến công nghệ, nghiên cứu và phát triển; và năng lực của nguồn nhân lực trong nước - có cam kết, có thời hạn và có đánh giá. Đây là điều kiện để nguồn lực của Nhà nước đi vào nơi thực sự hình thành năng lực, phát triển theo chiều sâu thay vì đi theo mô hình phát triển theo chiều rộng như trước đây.
Hai là, bảo đảm thị trường cho các ngành công nghiệp trọng điểm. Trong điều kiện hội nhập sâu, dư địa cho trợ cấp trực tiếp gần như không còn; công cụ mạnh nhất còn lại chính là tạo cầu. Cần triển khai có hiệu quả các chính sách, chương trình hỗ trợ thị trường cả trong và ngoài nước trong các ngành công nghiệp. Đặc biệt, các dự án lớn, quan trọng quốc gia trong giai đoạn tới - điện gió ngoài khơi, năng lượng tái tạo, hạ tầng giao thông đường sắt và đường bộ, công nghiệp hàng hải, hạ tầng viễn thông, dữ liệu số và công nghệ thông tin, khai thác và chế biến khoáng sản chiến lược cần đóng vai trò tạo ra các đơn hàng đủ lớn và đủ dài để doanh nghiệp trong nước có căn cứ đầu tư dài hạn.
Ba là, phát triển lực lượng doanh nghiệp công nghiệp trong nước và gắn kết thực chất với khu vực đầu tư nước ngoài. Cần hình thành một số doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp trong nước đủ quy mô và năng lực để dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa, đi cùng với chương trình phát triển nhà cung cấp giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước tham gia chuỗi. Bên cạnh đó, các nội dung về nâng cấp công nghệ và năng lực nghiên cứu phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao giá trị gia tăng trong nước cần trở thành những tiêu chí nền tảng trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài trong các ngành công nghiệp trọng điểm.
Bốn là, xây dựng năng lực nội sinh về khoa học, công nghệ và nhân lực kỹ thuật. Trọng tâm là đưa hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ về gần với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và thương mại hóa công nghệ; đồng thời khắc phục tình trạng thiếu hụt kỹ thuật viên và thợ lành nghề. Qua đó, nâng cao năng lực của doanh nghiệp và năng suất của lực lượng lao động. Đây là phần khó nhất và lâu nhất, nhưng nếu không triển khai thì các giải pháp trước đó chỉ mở rộng quy mô năng lực sản xuất chứ không tạo ra năng lực chiều sâu công nghệ.
Năm là, tập trung nguồn lực thay vì dàn trải. Nguồn lực cần được bố trí theo các tổ hợp và cụm liên kết ngành gắn với hạ tầng, năng lượng, logistics và đào tạo; đồng thời cơ cấu lại không gian phát triển công nghiệp theo lợi thế của từng vùng, thay vì phân bổ đều theo địa giới hành chính.
- Xin cảm ơn ông!
Theo Cục Công nghiệp, tái cơ cấu ngành công nghiệp cần tập trung vào 3 nội dung trọng tâm: chuyển dịch cơ cấu sang các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao; nâng cấp chuỗi cung ứng, tăng năng lực sản xuất và tự chủ của doanh nghiệp trong nước; đồng thời cơ cấu lại không gian phát triển công nghiệp theo lợi thế của từng vùng để hình thành các động lực tăng trưởng mới.


