• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Hướng đi mới của nông nghiệp Quảng Trị

Chuyển đổi cây trồng (CĐCT) mở ra hướng đi mới, nhưng để nâng cao giá trị nông nghiệp, một số mô hình tại Quảng Trị đã thay đổi cả cách tổ chức sản xuất. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu đến liên kết tiêu thụ, mỗi khâu cần được tính toán đồng bộ để mô hình phát triển bền vững.

Nhiều mô hình mới chuyển đổi sản xuất

Nhiều năm qua, sản xuất lúa vụ Hè - Thu tại một số địa phương ở Quảng Trị gặp khó do thiếu nước tưới, thời tiết bất lợi, hiệu quả kinh tế thấp. Thực trạng này đặt ra yêu cầu CĐCT phù hợp hơn với điều kiện đất đai, nguồn nước, đồng thời khai thác hiệu quả diện tích canh tác.

Theo Sở NN&MT, vụ Hè - Thu 2026, toàn tỉnh có 9.454ha đất lúa không tổ chức sản xuất, trong đó 8.251ha không đủ điều kiện do thiếu nguồn nước; 1.203ha có thể sản xuất nhưng phụ thuộc thời tiết hoặc nguồn nước không chủ động, hiệu quả kinh tế thấp. Diện tích đất lúa được chuyển đổi sang cây trồng khác trong năm mới đạt 250ha.

Trước thực tế đó, Trung tâm Khuyến nông tỉnh (TTKN) triển khai mô hình chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng ngô sinh khối gắn với liên kết, tiêu thụ sản phẩm tại các xã Trường Ninh, Trường Phú, Phong Nha, tổng diện tích 34 ha, 85 hộ tham gia. Toàn bộ diện tích được liên kết tiêu thụ với Cty CP Chăn nuôi Dương Gia Quảng Bình theo hợp đồng, giá thu mua tối thiểu 1.080 đồng/kg tại ruộng và 1.600 đồng/kg tại nhà máy.

Thu hoạch ngô sinh khối ở HTX Vạn Phúc. Thu hoạch ngô sinh khối ở HTX Vạn Phúc.

Tại Hợp tác xã (HTX) Sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Vạn Phúc, xã Trường Ninh, 10 ha đất lúa không chủ động nguồn nước hoặc sản xuất kém hiệu quả được chuyển sang trồng ngô sinh khối. Dù gặp thời tiết bất lợi, có thời điểm hơn 35 ngày liên tục không có mưa, cây ngô sau khi được trồng dặm, bổ sung nước đã phục hồi và sinh trưởng khá tốt.

Theo hạch toán, trên những chân ruộng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, năng suất ngô sinh khối đạt 40 - 45 tấn/ha. Với năng suất 45 tấn/ha và giá bán 1.600 đồng/kg tại nhà máy, doanh thu đạt 72 triệu đồng/ha; sau khi trừ khoảng 58,5 triệu đồng chi phí sản xuất, vận chuyển, lợi nhuận còn gần 13,5 triệu đồng/ha.

Kết quả bước đầu cho thấy ngô sinh khối có thể mở ra hướng sản xuất mới trên những diện tích đất lúa phù hợp. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc đáng kể vào điều kiện chân đất, khả năng cấp thoát nước và tổ chức cơ giới hóa, thu hoạch.

Ở lĩnh vực khác, mô hình lúa hữu cơ tại HTX Nông nghiệp Thượng Hòa, xã Vĩnh Linh cho thấy tiềm năng nâng cao giá trị nông sản thông qua chuẩn hóa quy trình và liên kết tiêu thụ. Năm 2026, HTX triển khai sản xuất 20ha lúa hữu cơ trong hai vụ Đông - Xuân và Hè - Thu, với 14 hộ tham gia. Mô hình do TTKN phối hợp Cty CP TCty Thương mại Quảng Trị thực hiện.

Các khâu sản xuất được tổ chức theo quy trình thống nhất, từ gieo mạ khay, sử dụng phân bón hữu cơ đến phun chế phẩm sinh học bằng máy bay không người lái. Vụ Hè - Thu, năng suất đạt khoảng 58 tạ/ha; DN thu mua lúa tươi tại ruộng với giá 13.000 đồng/kg. Doanh thu đạt 75,4 triệu đồng/ha, lợi nhuận hơn 29,2 triệu đồng/ha, cao hơn 11 triệu đồng/ha so với sản xuất thông thường. Đáng chú ý, vùng lúa 10 ha tại thôn Thượng Hòa đã được cấp chứng nhận hữu cơ quốc gia, sản lượng dự kiến khoảng 160 tấn/năm.

Theo thống kê của Sở NN&MT, toàn tỉnh hiện có gần 1.500 ha được chứng nhận hữu cơ, cùng hàng trăm ha lúa canh tác tự nhiên và sản xuất theo hướng hữu cơ đang hoàn thiện điều kiện chứng nhận.

Tổ chức lại sản xuất để phát triển bền vững

Thực tiễn triển khai các mô hình cho thấy, CĐCT hay thay đổi phương thức canh tác mới chỉ là bước đầu. Để sản xuất có hiệu quả, nông dân còn cần được hỗ trợ về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, kết nối tiêu thụ.

Tại mô hình ngô sinh khối ở HTX Vạn Phúc, quá trình thu hoạch ghi nhận tỷ lệ hao hụt sản lượng gần 25%. Theo HTX, diện tích canh tác của các hộ còn nhỏ lẻ, sản lượng từng hộ không đủ 1 chuyến xe nên phải cân tại ruộng, tập kết, chờ ghép chuyến. Trong điều kiện nắng nóng, gió Lào, ngô sau khi cắt nhanh héo, mất nước, làm giảm khối lượng.

Việc thu gom còn gặp tình trạng thiếu máy gắp chuyên dụng, có thời điểm “ngô chờ máy, máy chờ xe”. Giao thông nội đồng chưa đáp ứng yêu cầu khiến xe trọng tải lớn khó tiếp cận ruộng, phải trung chuyển bằng phương tiện nhỏ hơn, phát sinh chi phí.

Mô hình lúa hữu cơ tại HTX Thượng Hòa.

Mô hình lúa hữu cơ tại HTX Thượng Hòa.

Bên cạnh đó, không phải diện tích đất lúa kém hiệu quả nào cũng thích hợp trồng ngô sinh khối. Những chân ruộng thấp, dễ đọng nước hoặc khó đưa máy móc vào sản xuất có thể làm giảm năng suất, tăng chi phí. Vì vậy, việc chuyển đổi cần được khảo sát, đánh giá kỹ điều kiện từng vùng, tránh mở rộng diện tích khi chưa bảo đảm các yêu cầu cần thiết.

Theo ông Phan Ngọc Đồng, PGĐ TTKN, phát triển ngô sinh khối phải gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và chuỗi liên kết ngay từ đầu. Các địa phương cần lựa chọn diện tích phù hợp, tính toán đồng bộ phương án cơ giới hóa, thu hoạch, bốc xếp, vận chuyển, tiêu thụ.

Những vấn đề trên cũng cho thấy vai trò của công tác khuyến nông không chỉ dừng ở hướng dẫn kỹ thuật hay xây dựng mô hình trình diễn. Thông qua quá trình triển khai, đánh giá thực tế, TTKN góp phần nhận diện những điều kiện cần thiết để nhân rộng mô hình, giúp địa phương và người dân có thêm cơ sở lựa chọn phương án sản xuất phù hợp.

Với nông nghiệp hữu cơ, yêu cầu đặt ra là duy trì quy trình canh tác thống nhất, kiểm soát chất lượng và bảo đảm đầu ra. Thực tế tại HTX Thượng Hòa cho thấy, khi sản phẩm có chứng nhận và DN liên kết thu mua, người dân có thêm động lực duy trì phương thức sản xuất mới. Đây cũng là cơ sở để khuyến nông tiếp tục hỗ trợ hoàn thiện quy trình, nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị.

Đến vụ Hè - Thu 2027, đã có 17 xã, phường đăng ký trồng ngô sinh khối với tổng diện tích dự kiến 346 ha. Với nông nghiệp hữu cơ, định hướng đến năm 2030 của tỉnh là có trên 3.000 ha cây trồng sản xuất hữu cơ, theo quy trình hữu cơ hoặc canh tác tự nhiên; trên 35.000 ha cây trồng sản xuất theo hướng giảm phát thải và 5.000 ha đạt các tiêu chuẩn GAP. Sản xuất hữu cơ cũng từng bước gắn với kinh tế tuần hoàn, thông qua thu gom rơm rạ, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và sử dụng chế phẩm sinh học để giảm chất thải, tái sử dụng nguồn vật chất cho sản xuất.

Theo nhiều ý kiến, cần phát huy vai trò kết nối của TTKN với HTX, DN, người dân. Cùng với chuyển giao kỹ thuật, việc xây dựng mô hình cần gắn với nhu cầu thị trường, đánh giá đầy đủ chi phí, lợi nhuận, khả năng nhân rộng. HTX cần làm tốt vai trò tổ chức sản xuất; DN cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu nguyên liệu, tiêu chuẩn sản phẩm đến thu mua và tiêu thụ. Với vai trò đồng hành, hướng dẫn kỹ thuật và đánh giá mô hình từ thực tiễn, TTKN có thể góp phần giúp người dân lựa chọn đúng hướng sản xuất, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư. Đây là cơ sở để những mô hình phù hợp vượt qua giai đoạn thử nghiệm, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa ổn định, nâng cao thu nhập cho nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.

Minh Phương

Nguồn:https://baophapluat.vn/huong-di-moi-cua-nong-nghiep-quang-tri.html Sao chép liên kết

Tin liên quan